Quần thể di tích cố đô Huế

Huế ở trong vùng đất hẹp, ít được thiên nhiên ưu đãi. Nắng mưa khắc nghiệt, chiến tranh liên miên. Trong quá trình hình thành, ngoài cư dân bản địa xứ Huế còn có cư dân tiền trú từ Bắc vào, từ Nam ra và cư dân miền biển lên và cả từ trên miền cao xuống.

Thắng cảnh Vịnh Hạ Long

Với diện tích 1553km2; 1969 hòn đảo chạy dài theo bờ biển Quảng Ninh,Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều giá trị ngoại hạng, quốc tế, mang tính toàn cầu trơng đó nổi bật là hai giá trị cảnh quan, địa chất địa mạo đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới (UNESCO) hai lần tôn vinh là Di sản thiên nhiên thế giới (Lần 1 vào năm 1994, Lần 2 vào năm 2000).

Ý nghĩa các biểu tượng trong lễ Giáng Sinh

Ở giáo đường nào cũng có ngôi sao, cây thông Noel... Vậy bạn đã biết hết ý nghĩa của các biểu tượng trong lễ mừng Chúa sinh ra đời chưa?

TRƯỜNG MẦM NON CÔNG DÂN TOÀN CẦU UNETKid's

Trường Mầm non Công dân Toàn cầu (UNETKid’s) đã chính thức khai trương đi vào hoạt động dưới sự bảo trợ, quản lý và điều hành bởi Trung tâm thông tin UNESCO - Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam.

Giới thiệu Tạp chí Ngày Nay

Tạp chí Ngày Nay là cơ quan ngôn luận chính thức của Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam, tạp chí có nhiệm vụ tạo ra một diễn đàn tập hợp những tiếng nói chân chính của những tập thể, cá nhân có tâm huyết với sự phát triển của sự nghiệp Văn hóa, Giáo dục, Khoa học và Thông tin của đất nước theo đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, với những mục tiêu tiến bộ của tổ chức UNESCO đề ra mà Việt Nam là một thành viên.

Radio Ngay Nay Online

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tầm nhìn UNESCO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tầm nhìn UNESCO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

Khoa Quốc tế nhận Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục UNESCO”

Ngày 18/8/2011, Liên hiệp các Hội UNESCO Thế giới (WFUCA) đã trao tặng Khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn hoá – Giáo dục”, trao tặng GS. TSKH Nguyễn Trọng Do, Chủ nhiệm Khoa Quốc tế, Kỷ niệm chương “Nhà quản lý giỏi”. Buổi lễ trao tặng Kỷ niệm chương diễn ra trang trọng với sự tham dự của nhiều quan khách trong nước và quốc tế tại Grand Plaza, Trần Duy Hưng, Hà Nội.
 
 
GS. TSKH. Nguyễn Trọng Do nhận Kỷ niệm chương “Nhà quản lý giỏi”.
 
 
Khoa Quốc tế - ĐHQGHN được trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục UNESCO”.
 
Lễ trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục UNESCO” và “Nhà quản lý giỏi” nằm trong chuỗi hoạt động của Đại hội Thế giới lần thứ 8 của Liên hiệp các Hội UNESCO Thế giới (WFUCA) và Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Liên hiệp UNESCO Thế giới tại Hà Nội. Ngoài chương trình trao tặng Kỷ niệm chương, một số hoạt động văn hóa cũng được tổ chức bên lề Đại hội nhằm tuyên truyền cho các nội dung UNESCO và góp phần quảng bá về những giá trị văn hóa của Việt Nam với bạn bè quốc tế, bao gồm: đại nhạc hội quốc tế, triển lãm các thành tựu văn hóa, khoa học, giáo dục của Việt Nam và diễn đàn giới thiệu thông tin dành cho các doanh nghiệp đầu tư cho các dự án về văn hóa, khoa học và giáo dục.

Thứ Ba, 15 tháng 11, 2011

Lấp lánh Cù Lao Chàm

                           (Ảnh sưu tầm mang tính minh họa)
NNO - Cù lao Chàm là một cụm đảo xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15km. Cù lao Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông. Dân số trên các hòn đảo này khoảng 3.000 người với hơn 600 hộ dân. Cù Lao Chàm còn là một di tích văn hoá lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Hội An. Bản đồ Tây - phương xưa thường ghi Cù lao Chàm với tên "Champello" lấy từ tiếng Nam - Ấn (Autronesian) "Pulau Champa". Tại đây còn nhiều di tích thuộc các nền văn hóa Sa Huỳnh, Chăm Pa, Đại Việt, với các công trình kiến trúc cổ của người Chăm và người Việt có niên đại vài trăm năm. Ngày 29.5.2009, với hệ động thực vật phong phú và những di tích lịch sử hàng trăm năm trước, Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới trong phiên họp thứ 21 của Ủy ban Điều phối quốc tế chương trình con người và sinh quyển diễn ra tại đảo Jeju (Hàn Quốc).
Những ai lần đầu đến với Cù Lao Chàm chắc chắn sẽ bị hòn đảo này quyến rũ bởi 135 loài san hô trong đó có 6 loài lần đầu tiên ghi nhận ở vùng biển Việt Nam, 500 thảm rong và cỏ biển, 202 loài cá, 4 loài tôm hùm và 84 loài nhuyễn thể… Cùng với một màu biếc xanh nguyên sơ của cây rừng nối liền với màu xanh của biển bằng dải lụa cát trắng mịn màng, lấp lánh dưới ánh nắng vàng và màu trời xanh thẳm…
Đứng giữa biển Cửa Đại, chỉ giơ bàn tay theo phương ngang với mặt là thấy mình đã chạm vào cả một dải đảo xanh mướt. Từ cái chạm tay ấy phải mất đến cả một tiếng tàu thủy (đi bằng tàu chợ); và 15 phút đi ca nô để có thể chạm chân lên bãi cát trắng của Cù Lao Chàm - nơi có địa hình đồi núi và thảm thực vật đã được tái tạo xanh tốt và nhiều loài quý hiếm. Phía đông của đảo sườn núi dốc đứng, bên dưới sóng biển mạnh mẽ tạo nên cảnh quan hùng vĩ.
Cù lao Chàm như giống như một viên đá chưa được gọt giũa, các cạnh của nó vẫn nguyên vẻ xù xì, ngăn trở bằng những bãi đá nhấp nhô như răng khểnh. Mùa hè dù có nóng bỏng thì vẫn khó lòng chạm tới Cù Lao Chàm. Cù Lao lúc nào cũng mướt mắt và sóng sánh một màu xanh. Dẫu có mưa giông, gió giật bất chợt làm bầu trời biến sắc, thì cũng chỉ ào ạt một lúc sẽ lại nắng bừng lên để hong khô dải cát mịn màng, để rồi màu biển sẽ lại cùng với màu trời tạo nên giải lụa màu xanh bất tận.
Những hàng dừa cũng điệu đàng khoe dáng, soi bóng xuống lòng biển xanh. Dọc các bãi cát trải dài, đôi ba chiếc cầu gỗ - nơi mà dường như trời đất nối liền nhau qua cây cầu lãng mạn như bến đỗ dành cho du khách thả dáng trước ống kính của các nhiếp ảnh gia. Điểm xuyết với bức tranh thiên nhiên trong trẻo ấy là sự hiện diện của những chiếc thuyền thúng dập dềnh theo con sóng vỗ ì oạp, nơi sự sống con người theo đó mà duy trì, sinh sôi…
Du khách cũng có thể chiêm ngưỡng những sản phẩm gốm sứ cổ Chu Đậu và nhiều vùng khác mà các nhà khoa học đã tìm thấy trên con tàu đắm ở vùng biển này vài trăm năm trước trong phòng trưng bày "Văn hoá thiên nhiên, con người Cù lao Chàm - Báu vật từ đáy biển",... hay thăm quan chùa Hải Tạng - ngôi chùa tồn tại đã gần 300 năm trên đảo; tham quan giếng cổ, lăng Ông hay lặn san hô (lặn nông), xem cá nhiều màu sắc ở bãi Bấc, Hòn Dài;  tham gia tour vượt biển tham quan làng chài bãi Hương. Những ai thích cảm giác mạnh có thể chọn tour lặn biển (có và không có bình hơi) do Trung tâm lặn biển Hội An Beach Rersort phục vụ.
Nếu không theo các tour, du khách có thể xuống tắm biển ở bãi Ông hoặc bãi Chồng. Tất cả đều còn khá hoang sơ, thú vị. Các bạn trẻ thì đến khu vực Âu thuyền để xem hoặc trực tiếp tham gia cuộc đua tài trong trò chơi "Ngư dân với biển cả", hoặc chọn các loại hình thể thao biển như lướt ván, dù bay, chèo thuyền kayak, thả diều, đua thuyền... Cù Lao Chàm ban ngày hấp dẫn bởi những điểm đến luôn lôi cuốn du khách và một gam màu nguyên sơ mà mãnh liệt như thế!
Đêm cù lao lại mang đến cho du khách một trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ với dịch vụ “homestay”. Đây là loại hình dịch vụ do người dân đảo chiều lòng khách muốn nghỉ lại qua đêm trong những căn lều di động ở bãi Chồng, bãi Hương,... để thưởng thức những bản nhạc du dương từ tiếng gió và tiếng sóng vỗ dạt dào vào các ghềnh đá sẽ ru êm một giấc ngủ bình yên giữa đất trời. Hoặc du khách không muốn để giấc ngủ chiếm mất những khoảnh khắc khám phá hòn đảo này, có thể thả bộ, thư giãn dọc bãi cát, ngắm nhìn sự sống lấp lánh trong ánh đèn của những chiếc thuyền câu mực, đánh cá giữa biển đêm đen quánh.
Chuyến đi của du khách sẽ thú vị hơn nếu như đươc thăm nơi tụ cư của chim yến, lúc biển lặng sóng yên, du khách còn được đưa đến tham quan các đảo như hang Tò Vò, hang Khô - nơi yến làm tổ trên vách đá cheo leo…
Cù Lao Chàm không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên mà con người nơi đây mới thực sự là “món quà quý” đảo dành tặng du khách. Họ sẵn sàng trải lòng mình với du khách bốn phương bằng các sinh hoạt cộng đồng giữa bao sóng biển rì rào suốt ngày, giữa gió và nắng chan hoà. Sự chân tình, hồn hậu và mến khách sẽ khiến bước chân những ai trót lãng du tới đây quyến luyến lúc phải rời xa./.
Box: Cù Lao Chàm được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới từ năm 2009. Cũng từ thời điểm đó điểm du lịch này mới bắt đầu thực sự có danh trên bản đồ du lịch thế giới. Và hơn 600 hộ dân nơi đây luôn đồng lòng tẩy chay những chất gây hại không chỉ môi trường mà còn có nguy cơ ảnh hưởng tới các thế hệ con cháu của họ sau này. Thậm chí ở chợ còn có tấm bảng với khẩu hiệu “Xách giỏ đi chợ, phong cách của người nội trợ” và hình minh họa nói không với túi nilon, đủ thấy quyết tâm của những người dân Cù Lao xanh thế nào./.
Phương Nguyễn
(Tạp chí Ngày Nay)

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

Di sản Thế giới của Việt Nam

                                        (Ảnh sưu tầm mang tính minh họa)
NNO - Di sản thế giới là di chỉ hay di tích của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể hay thành phố... do các nước có tham gia Công ước di sản đề cử cho Chương trình quốc tế di sản Thế giới, được công nhận và quản lý bởi UNESCO.

Những vị trí được đưa vào danh sách di sản thế giới có thể được nhận tiền từ Quỹ Di sản thế giới theo một số điều kiện nào đó. Chương trình này được thành lập bởi Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên Thế giới, gọi tắt là Công ước di sản thế giới, nó được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận ngày 16 tháng 11 năm 1972.

Tính đến năm 2011, có tất cả có 936 di sản được liệt kê, trong đó có 725 di sản về văn hóa, 183 di sản về những khu thiên nhiên và 28 di sản thuộc cả hai loại. Các di sản đó hiện diện tại 153 quốc gia.



Quần thể di tích Cố đô Huế

Cố đô Huế là kinh đô một thời của Việt Nam, nổi tiếng với hệ thống đền, chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc nguy nga tráng lệ gắn liền với cảnh quan thiên nhiên núi sông thơ mộng. Nằm ở bờ Bắc sông Hương, tổng thể kiến trúc của cố đô Huế được xây dựng trên một mặt bằng với diện tích hơn 500ha và được giới hạn bởi ba vòng thành theo thứ tự ngoài lớn, trong nhỏ: Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành.

Ba tòa thành này được đặt lồng vào nhau, bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên.

Cố đô Huế còn là nơi lưu giữ rất nhiều những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam.

Năm 1993, quần thể di tích Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo vì nó chứa đựng những dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên với sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng; nhiều hang động kỳ thú quần tụ thành một thế giới vừa sinh động vừa huyền bí.

Bên cạnh đó, vịnh Hạ Long còn là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới... cùng với hàng nghìn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng.

Năm 1994, UNESCO đã chính thức công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới bởi giá trị ngoại hạng về mặt cảnh quan. Năm 2000, vịnh Hạ Long tiếp tục được UNESCO công nhận lần thứ hai là Di sản địa chất thế giới vì những giá trị độc đáo về địa chất, địa mạo.

Khu di tích Mỹ Sơn

Khu di tích Mỹ Sơn là khu vực đền tháp của người Chăm cổ, được học giả người Pháp M.C.Paris tìm thấy trong chuyến thám hiểm vùng Đông Nam Á vào năm 1898. Toàn bộ khu di tích nằm lọt trong thung lũng Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 68km về hướng Tây - Tây Nam.

Được khởi công từ thế kỷ IV, Mỹ Sơn là một quần thể với hơn 70 ngôi đền tháp mang nhiều phong cách kiến trúc, điêu khắc tiêu biểu của dân tộc Chăm. Đây được coi là một trong những trung tâm đền đài chính của đạo Hindu (Ấn Độ giáo) ở khu vực Đông Nam Á và là di sản duy nhất của thể loại này tại Việt Nam.

Năm 1999, khu di tích Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Phố cổ Hội An

Phố cổ Hội An thuộc thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là một khu phố được hình thành từ thế kỷ XVI - XVII, trước đây là thương cảng của miền Trung. Đến nay khu phố cổ Hội An vẫn bảo tồn gần như nguyên trạng quần thể di tích kiến trúc gồm nhiều loại hình như nhà ở, hội quán, đình chùa, miếu, giếng, cầu, nhà thờ tộc, bến cảng, chợ kết hợp với đường giao thông ngang dọc tạo thành các ô vuông kiểu bàn cờ, mô hình phổ biến của các đô thị thương nghiệp phương Đông thời Trung đại.

Cuộc sống thường ngày của cư dân Hội An với những tập quán, sinh hoạt văn hóa lâu đời đang được duy trì một cách khá bền vững, hiện là một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị thời phong kiến.

Năm 1999, phố cổ Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là một khu bảo tồn thiên nhiên tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, có tổng diện tích 85.754ha. Đặc trưng của vườn quốc gia này là các kiến tạo đá vôi, các loại hang động, sông ngầm và hệ động thực vật quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới. Đặc biệt, ngoài hệ thống sinh cảnh thảm rừng và động vật hoang dã, vùng này chứa đựng trong lòng nó cả một hệ thống trên 300 hang động lớn nhỏ được mệnh danh là “vương quốc hang động”.

Hệ thống động Phong Nha đã được Hội nghiên cứu hang động hoàng gia Anh (BCRA) đánh giá là hang động có giá trị hàng đầu thế giới với bốn điểm nhất có các sông ngầm dài nhất, có cửa hang cao và rộng nhất, có những bờ cát rộng và đẹp nhất, có những thạch nhũ đẹp nhất.

Năm 2003, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới.

Nhã nhạc cung đình Huế

Nhã nhạc cung đình Huế là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, “trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia”.

Nhã nhạc đã đề cập đến âm nhạc cung đình Việt Nam được trình diễn tại các lễ thường niên bao gồm các lễ kỷ niệm và những ngày lễ tôn giáo cũng như các sự kiện đặc biệt như lễ đăng quang, lễ tang hay những dịp đón tiếp chính thức.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải dài trên năm tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Chủ thể của không gian văn hóa này gồm nhiều dân tộc khác nhau như Êđê, Bana, Mạ…

Văn hóa cồng chiêng là loại hình nghệ thuật gắn với lịch sử văn hóa của các dân tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn - Tây Nguyên. Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức riêng để chơi những bản nhạc của riêng dân tộc mình, nhất là vào dịp lễ hội, chào đón năm mới, mừng nhà mới… Trải qua bao năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hóa đặc trưng, đầy sức quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên.

Năm 2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã chính thức được UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.

Quan họ Bắc Ninh

Quan họ là một trong những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam; tập trung chủ yếu ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang). Nghệ thuật dân ca Quan họ được coi là đỉnh cao của nghệ thuật thi ca. Đến nay, Bắc Ninh còn gần 30 làng Quan họ gốc, với hơn 300 làn điệu dân ca Quan họ.

Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá cao giá trị văn hóa đặc biệt, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng xử văn hóa, bài bản, ngôn từ và cả trang phục của loại hình nghệ thuật này.

Năm 2009, UNESCO chính thức công nhận Quan họ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Ca trù

Hát ca trù (hay hát “ả đào”, hát “cô đầu”) là bộ môn nghệ thuật truyền thống của miền Bắc Việt Nam, rất phổ biến trong đời sống sinh hoạt văn hóa ở khu vực này từ thế kỷ XV. Ca trù sử dụng ba nhạc khí đặc biệt (không chỉ về cấu tạo mà còn về cách thức diễn tấu) là đàn đáy, phách và trống chầu. Về mặt văn học, ca trù làm nảy sinh một thể loại văn học độc đáo là hát nói.

Ngày 1/10/2009, ca trù của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội

Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội bao gồm Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu với diện tích hơn 47.000m2 và Thành cổ Hà Nội với diện tích hơn 138.000m2, tạo thành một di sản thống nhất. Đây là minh chứng rõ nét về một di sản có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử Việt Nam trong mối quan hệ với khu vực và thế giới; là minh chứng duy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong suốt chiều dài lịch sử.

Ngày 1/8/2010, Ủy ban di sản thế giới đã thông qua nghị quyết công nhận khu Trung tâm hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là Di sản văn hóa thế giới. Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản này được ghi nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; tính liên tục của di sản với tư cách là một trung tâm quyền lực, và các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú.

Bia tiến sĩ Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, hay bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám là các bia đá ghi tên những người đỗ Tiến sĩ các khoa thi thời hậu Lê và thời Mạc (1442-1779) tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, Việt Nam. Các bia đá này đã được UNESCO cộng nhận Di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức Thế giới vào ngày 9/3/2010, tại Macau, Trung Quốc. Sau Mộc bản triều Nguyễn , Bia Tiến sĩ Văn Miếu là di sản tư liệu thứ hai của Việt Nam được đưa vào danh mục Di sản tư liệu Thế giới.

Hội Gióng

Hội Gióng là một lễ hội truyền thống hàng năm được tổ chức ở nhiều nơi thuộc vùng Hà Nội để tưởng niệm và ca ngợi chiến công của người anh hùng truyền thuyết Thánh Gióng, một trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Giá trị nổi bật toàn cầu ở hội Gióng chính là một hiện tượng văn hóa được bảo lưu, trao truyền khá liên tục và toàn vẹn qua nhiều thế hệ. Mặc dù ở gần trung tâm Thủ đô và đời sống cộng đồng trải qua nhiều biến động do chiến tranh, do sự xâm nhập và tiếp biến văn hóa, hội Gióng vẫn tồn tại một cách độc lập và bền vững, không bị nhà nước hóa, thương mại hóa.

Ngày 16/11/2010, hai hội Gióng tiêu biểu ở Hà Nội là hội Gióng Sóc Sơn ở đền Sóc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn và hội Gióng Phù Đổng ở đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Mộc bản triều Nguyễn

Mộc bản là những bản gỗ khắc chữ Hán Nôm ngược dùng để in ra các sách được sử dụng phổ biến dưới triều Nguyễn. Hiện 34.555 tấm mộc bản đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 4 - trực thuộc Cục Văn thư .935 quyển có nội dung rất phong phú và được chia làm chín chủ đề: lịch sử, địa lý, quân sự, pháp chế, văn thơ, tôn giáo - tư tưởng - triết học, ngôn ngữ - văn tự, chính trị - xã hội, văn hóa - giáo dục.

Dưới triều Nguyễn, do nhu cầu phổ biến rộng rãi các chuẩn mực của xã hội, các điều luật bắt buộc thần dân phải tuân theo, để lưu truyền công danh sự nghiệp của các vua chúa, các sự kiện lịch sử..., triều đình đã cho khắc nhiều bộ sách sử và các tác phẩm văn chương để ban cấp cho các nơi. Trong quá trình hoạt động đó đã sản sinh ra một loại hình tài liệu đặc biệt, đó là mộc bản.

Ngày 31/7/2009, Mộc bản triều Nguyễn đã chính thức được UNESCO đưa vào "Chương trình Ký ức thế giới.

Thành Nhà Hồ

Thành nhà Hồ là một kinh thành của triều đại Trần - Hồ (cuối triều đại nhà Trần và đầu triều đại nhà Hồ), tiêu biểu cho sự giao lưu về các giá trị văn hóa với các nước trong khu vực. Thành Nhà Hồ là bằng chứng cho sự cách tân của vương triều Hồ, đứng đầu là Hồ Quý Ly. Đây còn là sự đột phá về kỹ thuật chế tác và khai thác đá, trải qua hơn 600 năm nhưng hầu hết phần chính của tòa thành này còn nguyên vẹn, chưa chịu nhiều tác động của quá trình đô thị hóa, được bảo tồn gần như nguyên vẹn cả trên mặt đất và trong lòng đất về cảnh quan cũng quy mô kiến trúc ở khu vực Đông Nam Á.

Sau 6 năm (2006 - 2011) xây dựng hồ sơ và đệ trình UNESCO, ngày 27 tháng 6 năm 2011 tại kỳ họp thứ 35 được tổ chức tại Paris, Pháp, Ủy ban Di sản Thế giới đã chính thức công nhận Thành Nhà Hồ trở thành di sản văn hoá thế giới./.

Thanh Phượng
(Tạp chí Ngày Nay)

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011

UNESCO là gi? - Tôn chỉ và Mục đích

NNO -  Tôn chỉ và Mục đích của UNESCO

Vì sao người ta thường nói rằng “Mục đích của UNESCO là cao đẹp”?
Lời mở đầu của Công ước UNESCO nói rằng: “Chiến tranh nảy sinh trong đầu óc con người, vậy ngay trong đầu óc con người cần phải xây dựng thành trì của hoà bình”, và rằng: “ Một nền hoà bình chỉ xây dựng trên các hiệp định kinh tế và chính trị giữa các chính phủ không thể nào giành được sự ủng hộ nhất trí lâu dài và chân thành của các dân tộc, vì vậy nền hoà bình ấy phải được thiết lập trên cơ sở đoàn kết trí tuệ và tinh thần của nhân loại.”
Bởi vậy UNESCO xác định mục đích cơ bản của mình là: “Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế bằng cách thắt chặt hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng của tất cả các nước về công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo của Hiến chương Liên Hợp Quốc đã công nhận đối với tất cả các dân tộc”.
Như vậy: Thông qua việc thành lập hoặc gia nhập tổ chức UNESCO, các dân tộc và các quốc gia mong muốn thực hiện ý tưởng về một sự “đoàn kết trí tuệ và tinh thần” với tầm nhìn của toàn nhân loại và lấy đó làm nền tảng để vun đắp cho một nền hoà bình vững chắc. Đó cũng là điểm khác biệt của UNESCO so với nhiều tổ chức chuyên môn khác của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế nói chung.

Chức năng căn bản của UNESCO
Nhằm đạt tới mục tiêu của mình, Công ước thành lập UNESCO quy định các chức năng:
1. Khuyến khích sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các dân tộc qua những phương tiện thông tin rộng rãi, khuyến nghị những hiệp định quốc tế cần thiết để khuyến khích tự do giao lưu tư tưởng bằng ngôn từ và hình ảnh.
2. Thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục quần chúng và truyền bá văn hoá bằng cách:
- Hợp tác với các nước thành viên trong việc phát triển các hoạt động giáo dục theo yêu cầu của mỗi người;
- Hợp tác giữa các quốc gia nhằm thực hiện từng bước lý tưởng bình đẳng về giáo dục cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, hoặc bất cứ một sự phân biệt nào khác về kinh tế xã hội;
- Đề xuất những phương pháp giáo dục thích hợp để chuẩn bị cho trẻ em thế giới về trách nhiệm đối với tự do.
3. Duy trì và nâng cao ứng dụng kiến thức bằng cách:
- Bảo tồn và bảo vệ di sản thế giới về sách báo, tác phẩm nghệ thuật và các công trình lịch sử hay khoa học và khuyến nghị với các nước hữu quan về các công ước quốc tế cần thiết;
- Khuyến khích hợp tác giữa các quốc gia về tất cả các ngành hoạt động trí tuệ, trao đổi quốc tế cán bộ hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hoá và truyền thông, kể cả trao đổi sách báo, trao đổi các sản phẩm có giá trị khoa học, nghệ thuật và các tư liệu thông tin khác;
Khởi xướng những phương thức hợp tác quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân ở tất cả các nước tiếp cận được với tất cả các ấn phẩm của những nước khác.
UNESCO đặc biệt coi trọng nguyên tắc: “Quan tâm đảm bảo tính độc lập, toàn vẹn và đa dạng phong phú của các nền văn hoá và hệ thống giáo dục của các nước thành viên và không can thiệp vào những công việc thuộc quyền giải quyết nội bộ của mỗi nước.”

www.unescovietnam.vn - Trang thông tin điện tử của Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam
Giấy phép số: 240/GP-BVHTT cấp ngày 21 tháng 8 năm 2006
Chịu trách nhiệm nội dung: Nguyễn Xuân Thắng, Tổng Thư ký Liên hiệp VFUA, Tổng Biên tập Tạp chí Ngày Nay
Trụ sở ban biên tập: Tầng 1/D3 Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội Tel: (04) 37616880 Fax: (04) 37616879 Email: vnf-unesco@fpt.vn

UNESCO là gi?

NNO - Tên gọi và lịch sử ra đời
 
Tên gọi đầy đủ của UNESCO
Parthenon Athens
Parthenon Athens
Tên tiếng Anh: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization.
Tên tiếng Việt: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc.

Biểu tượng của Tổ chức
UNESCO sử dụng hình ảnh mô phỏng mặt tiền của Đền Thờ Parthenon làm biểu tượng của Tổ chức. Parthenon là một công trình kiến trúc văn hoá Hy Lạp cổ đại, làm bằng đá cẩm thạch trắng, kiến trúc theo trường phái Doric nổi tiếng, nằm trong quần thể kiến trúc Ancropolis trên đồi Athen, khởi móng từ năm 477 trước CN, được người cổ đại xếp hạng là một trong bảy kỳ quan văn hoá thế giới. Đây là một công trình kiến trúc tiêu biểu cho nền văn minh loài người, là biểu tượng của vẻ đẹp lý tưởng, của sức mạnh trí tuệ và khả năng sáng tạo của con người – thể hiện nội dung, tư tưởng và lòng khao khát cao cả rất gần gũi với những gì UNESCO đang vươn tới.



Lịch sử ra đời của UNESCO
Đầu năm 1942, trong khi Chiến tranh thế giới Hai đang diễn ra khốc liệt thì chính phủ các nước châu Âu trong khối liên minh chống phát xít đã tổ chức một hội nghị tại Vương quốc Anh, có tên là “Hội nghị Các bộ trưởng giáo dục của các quốc gia đồng minh” (Conference of Allied Ministers of Education, CAME) để bàn bạc và chuẩn bị cho các vấn đề sau chiến tranh. Thế chiến Hai vừa kết thúc, trong khi các quốc gia đang phải vật lộn với tình hình hậu chiến đầy khó khăn thì các nước đồng minh đã tính tới ngay việc xây dựng một hệ thống giáo dục phục vụ cho thời bình. Một dự án khẩn trương đã đạt được một sự nhất trí mang tính toàn cầu. Các quốc gia mới bao gồm các thành viên của Liên Hợp Quốc đã quyết định tham gia vào dự án này.
Theo lời kêu gọi của CAME, một hội nghị đã được triệu tập trong khuôn khổ của Liên Hợp Quốc (ra đời trước đó không bao lâu, ngày 24-10-1945), để bàn về việc thành lập một tổ chức về văn hoá và giáo dục (ECO/CONF) diễn ra tại London từ ngày 1 đến 16 tháng 11 năm 1945. Hội nghị diễn ra ngay sau khi chiến tranh vừa mới kết thúc. Hội nghị đã thu hút được sự tham gia của đại diện 44 quốc gia. Căn cứ theo đề nghị của Pháp và Anh, là hai nước được coi là chịu thiệt hại nặng nề trong cuộc chiến tranh vừa qua, các đại biểu đã đi đến nhất trí về việc thành lập một tổ chức quốc tế tiêu biểu,xứng đáng với một nền văn hoá vì hoà bình. Các quốc gia mong mỏi tổ chức này hướng tới việc thiết lập “một tình đoàn kết về trí tuệ và lương tri của toàn nhân loại” và hành động nhằm loại bỏ nguy cơ chiến tranh.
Kết thúc Hội nghị có 37 trong số 44 nước đã quyết định việc thành lập Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (gọi tắt là UNESCO). Ngày 16-11-1945 Hội nghị đã ký thông qua nội dung Công ước UNESCO. Công ước này đã có hiệu lực sau đó một năm, vào ngày 4-11-1946, sau khi được chính phủ của 20 trong số 37 quốc gia tham gia hội nghị London phê chuẩn. Ngày 16-11-1945 được coi là ngày ra đời UNESCO. Hai mươi quốc gia đầu tiên phê chuẩn Công ước UNESCO được coi là các thành viên ban đầu (Sáng lập viên) của UNESCO, đó là: Ai Cập, Vương Quốc Anh, Ấn Độ, Australia, Brazil, Canada, Đan Mạch, Cộng hoà Dominican, Tiệp Khắc, Pháp, Hoa Kỳ, Hy Lạp, Lebanon, Mexico, Na Uy, Nam Phi, New Zealand, Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc. Đại hội đồng đầu tiên của UNESCO được tổ chức tại Paris, Pháp từ ngày 19-11 đến 10-12-1946 với sự tham gia của đại diện của 30 chính phủ thành viên có quyền bầu cử.
Tàn dư của Thế chiến Hai cũng được phản ánh trong cơ cấu của các Quốc gia Sáng lập của UNESCO. Những quốc gia từng là phát xít như Nhật Bản và Cộng hoà Liên bang Đức đến năm 1951 mới đủ điều kiện để trở thành thành viên UNESCO, còn Tây Ban Nha là năm 1953. Những nhân tố lịch sử và chính trị như Chiến tranh lạnh, phong trào độc lập dân tộc và quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân trong những năm 60 của thế kỷ XX, sự sụp đổ của Đông Âu và tan rã của Liên Xô cũng kéo theo những thay đổi căn bản về cơ cấu thành viên của UNESCO. Chỉ riêng năm 1960 có 19 quốc gia châu Phi gia nhập UNESCO. Chỉ từ 1991-1993 từ một quốc gia Liên bang Xô viết (cũ) đã thành 13 quốc gia thành viên độc lập… Do tính bị chi phối bởi quy chế thành viên của Liên Hợp Quốc nên Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trở thành thành viên duy nhất tại UNESCO, Cộng hoà Dân chủ Đức là thành viên của UNESCO từ 1972, nhưng đến 1990 thì trao quyền đại diện cho Công hoà Liên Bang Đức.

Các tổ chức tiền thân của UNESCO (tham khảo)
- Uỷ ban Hợp tác Trí tuệ Quốc tế (The International Committee of Intellectual Co-operation, CICI), đóng tại Geneva từ 1922-1946;
- Viện Hợp tác Trí tuệ Quốc tế (International Institute of Intellectual Co-operation, IICI), trụ sở tại Paris, 1925-19646;
- Văn phòng Quốc tế về Giáo dục (International Bureau of Education, IBE), trụ sở tại Geneva, 1925-1968. Từ 1969 IBE trở thành một bộ phận của UNESCO.

Những mốc lịch sử quan trọng của UNESCO trong 60 năm qua
Ngày 16-11-1945: Đại diện của 37 quốc gia họp tại London để ký Công ước UNESCO. Ngày này được lấy làm ngày ra đời của UNESCO.
Ngày 4-11-1946: Công ước UNESCO có hiệu lực sau khi được chính phủ của 20 nước phê chuẩn.
1948: UNESCO khuyến nghị với các nước thực hiện chế độ giáo dục bắt buộc và miễn phí trên phạm vi toàn cầu đối với trình độ tiểu học.
1952: Một hội nghị liên chính phủ đã được UNESCO triệu tập để thông qua Công ước Quốc tế về Quyền tác giả. Công ước góp phần tăng cường khả năng bảo vệ quyền tác giả đối với một số quốc gia trước đây chưa có điều kiện tham gia Công ước Berne về Bảo vệ các tác phẩm Văn học và Nghệ thuật ký từ 1886.
1956: Cộng hoà Nam Phi rút khỏi UNESCO với lời buộc tội là UNESCO đã cho phát hành hàng loạt các ấn phẩm mang tính “can thiệp nội bộ” đối với Nam Phi trong “các vấn đề về chủng tộc”. Năm 1994 Tổng thống Nelson Mandela lên nắm quyền và Nam Phi đã trở lại UNESCO.
1958: Khánh thành khu nhà Trụ sở của UNESCO tại Paris do nhóm kiến trúc sư Marcel Breuer (Mỹ), Pier-Luigi Nervi (Italy) và Bernard Zehrfuss (Pháp) thiết kế.
1960: Phát động Chiến dịch Nubia ở Ai Cập nhằm dịch chuyển Đền thờ Vĩ đại ở Abu Simbel đến vị trí an toàn để bảo tồn sau khi Ai Cập xây dựng đập nước Aswan. Trong vòng 20 năm thực hiện chiến dịch này, 22 công trình kiến trúc và tượng đài đã được di chuyển nguyên vẹn đến khu vực an toàn. Đây là một trong những công trình lớn nhất trong hàng loạt các chiến dịch bảo tồn di sản văn hoá do UNESCO phát động, bao gồm chiến dịch Moenjodaro (Pakistan), Fez (Maroc), Kathmandu (Nepal), Borobudur (Indonesia) and the Acropolis (Hi Lạp).
1968: UNESCO tổ chức Hội nghị liên chính phủ đầu tiên hướng tới việc giải quyết mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, mà hiện nay người ta gọi là “phát triển bền vững”. Hội nghị này là nguyên nhân dẫn đến việc ra đời Chương trình toàn cầu của UNESCO gọi là “Con người và Sinh quyển”.
1972: Một Công ước quốc tế liên quan đến Bảo vệ các Di sản Văn hoá và Thiên nhiên thế giới đã được thông qua tại UNESCO. Uỷ ban Di sản Thế giới được thành lập năm 1976 và những di sản đầu tiên trên thế giới được đưa vào Danh sách Di sản Thế giới vào năm 1988.
1974: Giáo hoàng John Paul VI trao tặng Giải thưởng Hoà Bình John XXIII cho UNESCO.
1975: Trường Đại học Liên Hợp quốc được thành lập tại Tokyo dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc và UNESCO.
1978: UNESCO thông qua Bản Tuyên bố về Chủng tộc và thành kiến chủng tộc. Những bản báo cáo tiếp theo liên quan đến các chủ đề do Tổng Giám đốc nêu đã gây ra nhiều tai tiếng, gây mất tín nhiệm cho UNESCO, dẫn đến giải thể nhóm khoa học nghiên cứu về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
1980: Hai tập sách đầu tiên Lịch sử Đại cương về Châu Phi của UNESCO được phát hành. Tiếp đến là các tập tương tự về các khu vực khác, đáng chú ý là về lịch sử vùng Trung Á và Caribé.
1984: Hoa Kỳ rút khỏi UNESCO do bất đồng trong vấn đề quản lý và những lý do khác. Tiếp đến là Anh và Singapore rút khỏi UNESCO vào năm sau, 1985. Ngân sách của UNESCO bị giảm đột ngột.
1990: UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế về “Giáo dục cho tất cả mọi người” tại Jomtiem, Thái Lan. Hội nghị đã phát động phong trào quốc tế về tạo điều kiện phổ cập học tập cơ bản cho trẻ em, thanh niên và người lớn. Mười năm sau, một hội nghị tương tự được tổ chức ở Dakar, Senegal, gọi là Diễn đàn Quốc tế về Giáo dục để đệ trình với các quốc gia những mục tiêu trên lĩnh vực giáo dục cơ bản cho tất cả mọi người cần đạt được vào năm 2015.
1992: Thành lập “Bộ nhớ” cho các chương trình quốc tế trên lĩnh vực bảo quản các thư viện gồm những sản phẩm văn hoá không thể thay thế được và bảo quản các bộ sưu tầm đang được lưu trữ. Nay các đối tượng cần được bảo vệ đó còn có các hiện vật lưu âm thanh, phim và các sản phẩm truyền hình.
1997: Vương quốc Anh quay lại UNESCO.
1998: Bản Tuyên bố về Nhân quyền đã được UNESCO biên soạn và thông qua vào năm 1997 đã được Liên Hợp Quốc phê chuẩn.
1999: Tổng Giám đốc Koichiro Matsuura tiến hành cải cách tổng thể cơ cấu và thực hiện chính sách phi tập trung hoá bộ máy công chức và hoạt động nghiệp vụ của UNESCO.
2001: Đại hội đồng UNESCO thông qua Bản Tuyên bố Quốc tế về Tính đa dạng Văn hoá.
2003: Hoa Kỳ quay lại UNESCO.
2005: Nước Hồi giáo Brunei trở thành quốc gia thành viên thứ 191 của UNESCO.

www.unescovietnam.vn - Trang thông tin điện tử của Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam
Giấy phép số: 240/GP-BVHTT cấp ngày 21 tháng 8 năm 2006
Chịu trách nhiệm nội dung: Nguyễn Xuân Thắng, Tổng Thư ký Liên hiệp VFUA, Tổng Biên tập Tạp chí Ngày Nay
Trụ sở ban biên tập: Tầng 1/D3 Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội Tel: (04) 37616880 Fax: (04) 37616879 Email: vnf-unesco@fpt.vn

Nhà ngoại giao Nguyễn Xuân Thắng được bầu làm Tổng thư ký Liên hiệp các Hội UNESCO Thế giới

NNO - Từ ngày 13 đến 15-8, tại Thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) đã diễn ra Hội nghị Ban chấp hành các hội UNESCO Thế giới (WFUCA).
   Các đại biểu tham sự Hội nghị tại Bắc Kinh chụp ảnh lưu niệm
Tại Đại hội, các quốc gia thành viên Ban chấp hành đã thông qua nghị quyết với số phiếu tuyệt đối việc Việt Nam là nước đăng cai tổ chức Đại hội Liên hiệp các Hội UNESCO toàn Thế giới tại Việt Nam vào tháng 8 năm 2011. Dự kiến Đại hội sẽ đón khoảng 400 đại biểu đến từ hơn 70 quốc gia thành viên.
Cũng tại Hội nghị lần này, Ban chấp hành đã biểu quyết 100% việc bổ nhiệm Nhà ngoại giao Nguyễn Xuân Thắng - Chủ tịch Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam vào chức danh Tổng thư ký Liên hiệp các Hội UNESCO Thế giới. Ông Nguyễn Xuân Thắng là nhà ngoại giao kỳ cựu với 30 năm hoạt động trong lĩnh vực UNESCO, ông cũng từng là Tổng thư ký Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam từ năm 1991 đến năm 1993.
Theo Unet.vn
TRUNG TÂM THÔNG TIN UNESCO – UNET

Tầng 9, khách sạn Thể thao HACINCO, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội.
Email: son@madeinvn.vn
Điện thoại: (+844) 2248 7777 - 2249 7777 - Fax: (+844) 3557 1367.

Thắng cảnh Vịnh Hạ Long

NNO - Được UNESCO công nhận năm 1994, công nhận mở rộng năm 2000.


Di sản Thiên nhiên, thứ mục tiêu chí số: 1,  3


ha_long
Với diện tích 1553km2; 1969 hòn đảo chạy dài theo bờ biển Quảng Ninh,Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều giá trị ngoại hạng, quốc tế, mang tính toàn cầu trơng đó nổi bật là hai giá trị cảnh quan, địa chất địa mạo đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới (UNESCO) hai lần tôn vinh là Di sản thiên nhiên thế giới (Lần 1 vào năm 1994, Lần 2 vào năm 2000). Khu vực Di sản được UNESCO công nhận là nơi tập trung nhiều đảo đá, hang động, bãi tắm với diện tích 434km2 gồm 775 hòn đảo, trong đó 441 hòn có tên. Không còn nghi ngờ gì nữa, Vịnh Hạ Long thực sự là một kỳ quan thế giới, đúng như sự suy tôn trong cuốn sách ''Những kỳ quan thế giới” (Le merveiller du Mon de) của Nhà xuất bản Hacheưe năm 1950. Như một kho báu khổng lồ, vĩ đại, Vịnh Hạ Long còn mang nhiều giá trị khác: Đa dạng sinh học, lịch sử - văn hoa, khảo cổ, kinh tế..: Vịnh Hạ Long từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: Hải dương học, Dân tộc học, Sinh vật học...Danh thắng Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều bí ẩn trong lòng, mà khi du khách đến Vịnh Hạ Long còn chưa khỏi sửng sốt trước cảnh đẹp ở đây thì đã bị những bí ẩn chưa có lời giải đáp đó lôi cuốn bởi sự hấp dẫn, bất ngờ.
Vịnh Hạ Long là một tạo hình kỳ lạ của tạo hoá, một sự kết hợp giữa điêu khắc và hội hợp, là sự hài hoà, uyển chuyển giữa bố cục và màu sắc, giữa hình khối và không gian...được biểu hiện bởi hàng ngàn đảo trên mặt biển xanh màu ngọc bích, lung linh. Vừa hoành tráng, khỏe mạnh, vừa duyên dáng, thơ mộng. Những khối đá nằm rải rác như một công viên nơi biển cả. Những hình thù khác nhau như có bàn tay sắp đặt ''cố tình'' của tạo hóa khơi gợi trí tưởng tượng vô hạn của con người. Hòn Đỉnh Hương làm người ta lên tưởng đến những chiến binh dũng cảm của dân tộc ngày nào thắp nén hương mà thề nguyện giết giặc cứu nước trước giờ xung trận, Hòn Gà chọi lại có một chiều sâu triết học. Cả một tư tưởng Phương Đông thâm thuý, cổ kính, cả một học thuyết Âm dương ngũ hành từ bao đời chỉ cần nhìn vào đó thôi con người không cần lời đàm luận nào nữa. Và cả những hòn trông giống như chiếc ngai vàng của một triều đại vàng son đã qua đi, có những hòn hao hao như dáng lưng gù của Bà mẹ Việt Nam.

Halong
''Một thế giới đưa con người trở về với miền thời gian thần thẳm của quá khứ, một thế giới nâng cao dáng vóc tâm hồn cơn người lên với những miền không gian khôn cùng''. Cái đẹp vĩnh cửu, vĩ đại của Hạ Long được tạo nên từ 3 yếu tố: Đá, Nước,Bầu trời. Đây là một ''đặc ân'' của thiên nhiên dành cho Hạ Long mà chưa có nước nào trên thế giới có được. Những đảo đá nằm trên biển giống như những người lính gác trên mặt Vịnh, lại giống như đàn Thiên nga đang bơi lượn trên biển. Ai đó coi Vịnh Hạ Long như một ''hòn non bộ'' của Thượng đế.
Cảnh đẹp Vịnh Hạ Long không chỉ phô bày ở núi, biển, trời mà những hòn đảo đá cũng chứa đựng trong lòng tác phẩm điêu khắc tinh xảo độc đáo. Đó là hệ thống hang động đa dạng, phong phú: Động Thiên Cung chau chuốt, lộng lẫy, hang Sửng Sốt hoành tráng, khoẻ khoắn, tựa như ''nhà hát lớn''; hang Đầu Gỗ được mệnh danh là 'động của các kỳ quan''
Hệ thống đảo đá, hang động đưa con người tìm được niềm vui, chia sẻ được nỗi buồn, hướng tới tương lai.
Giá trị có ý nghĩa nhân văn là sự xuất hiện của con người. Con người cùng hòa nhập vào thiên nhiên. Cùng với thiên nhiên, cơn người sáng tạo ra văn hoá của mình. Những hiện vật tìm thấy trong những di chỉ khảo cổ đã nói cho các nhà khoa học rằng: Quảng Ninh nói chung, khu vực Vịnh Hạ Long nói riêng là một trong những cái nôi của người Việt cổ, Ba nền văn hoá nổi tiếng kế tiếp nhau đã được phát hiện ở khu vực này là: Văn hóa Soi Nhụ, Văn hoá Cái Bèo và Hạ Long. Nền Văn hoá Hạ Long kế tiếp nền Văn hoá Hòa Bình- Bắc Sơn và có giá trị đặc biệt trong nền văn minh Việt cổ. Các nhà khảo cổ học đã xác định được nền Văn hoá Soi Nhụ cách ngày nay 25000 năm đến 7000 năm. Các di chỉ của nền văn hoá này nằm ngay trong khu Di sản thế giới Vịnh Hạ Long. Nền văn hoá Cái Bèo cách ngày nay từ 7000 đến 5000 năm, là gạch nối giữa Văn hoá Soi Nhụ và Văn hoá Hạ Long. ''Việc xác định được nền văn hoá Soi Nhụ (có tuổi tương đương với nền văn hoá Hoà Bình và Bắc Sơn nổi tiếng thế giới) có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết, nó đã đẩy được quá khứ lịch sử văn hoá của khu vực ít nhất lên tới 25.000 năm cách ngày nay. Nó đã cung cấp cho các nền Văn hóa Cái Bèo và Hạ Long ở các giai đoạn sau có một nguồn gốc chắc chắn. Nếu trước đây người ta chỉ biết tới cuộc cách mạng nông nghiệp thời đá mới Việt Nam và Đông Nam á sau Văn hóa Hoà Bình và Văn hóa Bắc Sơn thì ngày nay với việc phát hiện Văn hóa Soi Nhụ người ta còn biết thêm cuộc cách mạng khai thác biển trong các Văn hóa Cái Bèo và Hạ Long sau Văn hóa Sợi Nhụ. Nhưng điều có ý nghĩa nhất là nó giúp lý giải về một truyền thống văn hoá định hướng biển từ rất sớm và liên tục cho đến tận bây giờ trên vùng đất Hạ Long. Tổ tiên người Việt không chỉ biết đến kinh tế nông nghiệp mà còn biết đến kinh tế biển nữa''.
Vịnh Hạ Long còn là nơi ghi dấu lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nơi chứng kiến bước chân của Hai Bà Trưng truy đuổi tàn quân Tô Định
Halong1
qua vùng biển Vịnh Hạ Long năm 40 sau công nguyên. Từ năm1149 vua Lý Anh Tông thành lập thương cảng Vân Đồn, trải qua những sự thăng trầm và những biến cố của lịch sử từ Lý, Trần, Lê... thương cảng này trở thành trung tâm buôn bán, giao lưu văn hoá sầm uất giữa nước ta và các nước trong khu vực. Vịnh Hạ Long ghi dấu 3 trận đại thắng oanh liệt của quân và dân ta trên sông Bạch Đằng. Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán năm 938, Lê Hoàn thắng Tống năm 981, Trần Hưng Đạo thắng quân Nguyên Mông năm 1288.. Và lịch sử cũng không quên ghi dấu những chiến thắng vang dội của quân và dân ta qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ bảo vệ vững chắc biển trời Đông bắc góp phần bảo vệ độc lập cho Tổ quốc. Nét độc đáo và hấp dẫn của Hạ Long là sự xuất hiện của các cư dân làng chài trên Vịnh. Họ chính là hồi quang, là hậu duệ có tính kế thừa của một nền văn hoá đã xa xưa: Nền Văn hóa Hạ Long. Biển chi phối toàn bộ cuộc sống cư dân này. Hiện nay có 4 làng chài: Cửa Vạn, Ba Hang, Vông Viếng, Cặp La nằm rải rác trên Vịnh Hạ Long.Với khoảng 300 hộ, 3000 nhân khẩu. Những cư dân làng chài này có một truyền thống văn hóa độc đáo, đặc sắc: hò, vè, hát giao duyên, hát chèo đường mang đậm yếu tố văn hóa Biển, là ''đặc sản'' văn hoá của vùng Hạ Long.
Nếu giá trị cảnh quan tự nhiên tuyệt vời đã tôn vinh khu Di sản phản ánh hình thể và màu sắc của viên ngọc quý thì giá trị địa chất được xem là cấu trúc và chất liệu tạo nên viên ngọc ấy. Lịch sử địa chất lâu dài của Vịnh Hạ Long được biết ít nhất trên 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, với nhiều lần tạo sơn- biển thoái, sụt chìm - biển tiến. Khu vực Vịnh Hạ Long đã từng là biển sâu vào các kỳ Odovic - Silua, là biển nông vào các kỷ Cacbon - pecmi , biển ven bờ vào cuối kỷ Plaogen - đầu Neogen và trải qua một số lần biển lấn trong kỷ Nhân sinh.Vịnh Hạ Long ngày nay mới được hình thành trong 7 - 8 nghìn năm qua. Nhưng để có Vịnh đã phải có một biển cổ tích tụ tầng đá vôi dày trên nghìn mét, trong khoảng 340 - 240 triệu năm trước, một thời kỳ xâm thực Karst kéo dài trên 20 triệu năm.
Vịnh Hạ Long còn là mẫu hình tuyệt vời để Karst trưởng thành trong điều kiện nhiệt đới ẩm. Vịnh có quá trình tiến hóa Karst trải qua hàng triệu năm, nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi rất dày, khí hậu nóng ẩm, và quá trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể. Với sự bóc mòn của nước mưa và sự xâm thực của nước biển khi lên, xuống, đã tạo ra những tháp, những thung lũng, hồ Karst phong phú nhất thế giới và một hệ thống hang động điển hình gồm 3 dạng: phát triển theo cấu trúc thẳng đứng, là các hang cổ nhất, cao nhất; phát triển có cấu trúc ngang, có độ cao trung bình, tuổi chủ yếu vào cuối Pleistocenle. Các hang động do nước cắt xẻ, bào khoét hình thành chủ yếu trong giai đoạn Honocence với những giá trị cao về hang động học, địa chất học, hải dương học...

Halong3
Môi trường địa chất còn là nền tảng phát sinh các giá trị khác của Vịnh Hạ Long như đa dạng sinh học, văn hóa, khảo cổ, lịch sử. Đa dạng sinh học là một ưu thế, một đặc điểm hấp dẫn của Vịnh Hạ Long. Đây là nơi bảo tồn các loài động thực vật vô cùng phong phú, đặc biệt nhiều loài quý hiếm.Vịnh Hạ Long tập trung nhiều hệ sinh thái vùng biển nhiệt đới như: hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng. Theo thống kê, san hô ở đây có 163 loài, thuộc 44 chi và 12 họ. Thực vật ngập mặn gồm 36 loài, thuộc 24 họ, động vật đáy gồm 81 loài, chim có 37 loài, có gần 1000 loài cá với 730 loài đã được đặt tên. Người ta đã ví Vịnh Hạ Long như một ''vườn bách thú'', một ''thảo cầm viên'' đầy quyến rũ.
Là một khu Di sản thiên nhiên thế giới, đồng thời là khu bảo vệ quốc gia có vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng, bên cạnh những giá trị to lớn trên, Vịnh Hạ Long còn là vùng biển đảo chứa đựng tiềm năng to lớn về giao thông cảng biển, du lịch, đánh bắt, nuôi trồng hải sản.
Vì vậy Vịnh Hạ Long nói riêng, tỉnh Quảng Ninh nói chung đã, đang và sẽ trở thành một trọng điểm du lịch, một khu vực phát triển nhanh chóng, sôi động về kinh tế, xã hội.
Nhận rõ tính chất nhiệm vụ, yêu cầu của việc bảo tồn, phát huy những giá trị Di sản này rất quan trọng, nhạy cảm, ngày 09-12-1994, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh quyết định thành lập Ban Quản lý Vịnh Hạ Long. Đây là cơ quan chuyên môn, trực thuộc UBND Tỉnh, có trách nhiệm bảo tồn, phát huy những giá trị Vịnh Hạ Long, trọng tâm là khu Di sản thế giới được UNESCO công nhận. Về chuyên môn, BQL Vịnh Hạ Long chịu sự chỉ đạo của Bộ Văn hoá - Thông tin và Uỷ ban quốc gia UNESCO Việt Nam.
Ban Quản lý Vịnh Hạ Long sau 8 năm thành lập, xây dựng, phát triển, với quan điểm “vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị Di sản Vịnh Hạ Long” đã từng bước khẳng định vai trò của mình đối với việc quản lý khi Di sản, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, phát huy giá trị Vịnh Hạ Long song song với việc bảo tồn Vịnh Hạ Long.Image
Với những biện pháp hoạt động quản lý khu Di sản thế giới đang dược tiến hành đồng thời với việc triển khai thực hiện một số dự án tu bổ tôn tạo hang động, thắng cảnh trên Vịnh, hiện nay Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã góp phần tích cực giải quyết mâu thuẫn giữa vấn đề bảo tồn Di sản với khai thác những tiềm năng lợi thế to lớn của Vịnh Hạ Long. Mới đây, Dự án Bảo tàng sinh thái Vịnh Hạ Long đã được Chính phủ phê duyệt, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long trong thời gian tới sẽ phối hợp xây dựng một “Bảo tàng sống” quy mô đầu tiên ở Việt Nam. Bằng sự cố gắng nỗ lực của mình, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đang cùng với các cấp, các ngành, các nhà khoa học, các tổ chức trong nước và quốc tế nghiên cứu, đề xuất ý kiến để chuẩn bị lập hồ sơ khoa học đệ trình UNESCO đề nghị công nhận Vịnh Hạ Long có đầy đủ tiêu chuẩn (ii) tiêu chí lựa chọn Di sản thiên nhiên thế giới và theo tiêu chuẩn (v) tiêu chí lựa chọn Di sản văn hóa thế giới với giá trị da dạng sinh học và văn hoá - lịch sử, khảo cổ.
Giá trị Di sản Vịnh Hạ Long đã vượt ra khởi phạm vi đất nước, các vấn đề quản lý, bảo tồn, phát huy Di sản đã vượt ra khỏi phạm vi một tỉnh, vì vậy, con người Hạ Long nói riêng, con người Việt Nam nói chung có trách nhiệm rất cao cả, nặng nề. “Cùng với các Di sản thế giới khác trong cả nước như Di sản quần thể kiến trúc Cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, Di sản thế giới Vịnh Hạ Long chắc chắn mãi mãi là nơi lưu giữ và phát huy, khai thác những giá trị to lớn và vô giá về khoa học cùng những điều kỳ thú thiên nhiên cho đất nước và nhân loại./.
 

Quần thể di tích cố đô Huế







“Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được”
(NNO) - Mang trong mình vẻ đẹp cổ kính cùng với thời gian, Cố đô Huế khiến người ta nghĩ đến cái gì đó thật bình yên, tĩnh mịch. Gần một thế kỷ rưỡi là Kinh đô của một triều đại phong kiến với thiết chế chính trị dựa trên nền tảng Nho giáo, từng là thủ phủ của Phật giáo một thời, bên cạnh những kiến trúc cung đình lộng lẫy vàng son, Huế còn lưu giữ hàng trăm ngôi chùa thâm nghiêm cổ kính, an lạc giữa những núi rừng hoang vu u tịch. Ông Amadou Mahtar M’bow - Nguyên Tổng giám đốc UNESCO, đã thật tinh tế khi đưa ra một nhận xét trong lời kêu gọi cho cuộc vận động bảo vệ, giữ gìn, tu sửa và tôn tạo Di sản văn hóa Huế: “Huế không phải chỉ là một mẫu mực về kiến trúc mà còn là một cao điểm về tinh thần và một trung tâm văn hóa sôi động - ở đó đạo Phật và đạo Khổng đã thấm sâu, hòa nhuyễn vào truyền thống địa phương, nuôi dưỡng một tư tưởng tôn giáo, triết học và đạo lý hết sức độc đáo”.
Huế không có sự ồn ào của những nhà máy, công xưởng hay khói bụi mù mịt của các phương tiện giao thông, Huế là sự hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên với cuộc sống yên bình của những con người dễ mến nơi đây.
Nói đến Huế, người ta nghĩ ngay đến nhữnh thành quách, cung điện vàng son, những đền đài miếu vũ lộng lẫy, những lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam cổ tự trầm tư u tịch, những thắng tích do thiên nhiên khéo tạo.
Nằm giữa lòng thành phố Huế, bên bờ Bắc của sông Hương chảy xuyên qua từ Tây sang Đông, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền nhà Nguyễn vẫn sừng sững trước bao biến động của lịch sử và thách thức của thời gian. Huế, ba toà thành lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế - đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh… Những công trình kiến trúc ở đây như hòa lẫn vào thiên nhiên tạo nên những tiết tấu kỳ diệu khiến người ta quên mất bàn tay con người đã tác động lên nó.
Gần 400 năm (1558-1945), Huế là thủ phủ của 9 đời chúa Nguyễn ở xứ Đàng Trong (bắt đầu từ lộ Thuận Hoá), được thiết lập dưới thời Vương triều Trần (1366). Là kinh đô của triều đại Tây sơn (cuối thế kỷ XVIII), rồi đến kinh quốc của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn (1802-1945), tiếp tục phát huy và gây dựng ở vùng Huế một tài sản văn hóa vô giá. Cố đô Huế lưu giữ trong lòng những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Quần thể di tích của Cố đô đã được sánh ngang hàng với các kỳ quan hàng ngàn năm của nhân loại trong danh mục Di sản Văn hóa Thế giới của UNESCO được công nhận vào năm 1993.
Suốt mấy thế kỷ qua, bao nhiêu tinh hoa của cả nước được chắt lọc hội tụ về đây, hun đúc cho một nền văn hóa đậm đà bản sắc để hoàn chỉnh thành một bức cảnh thiên nhiên tuyệt vời với sông núi hữu tình thơ mộng.
Đây khu Hoàng thành với 4 cổng ra vào, nơi có Ngọ Môn được lấy làm biểu tượng của Cố đô, là khu vực hành chính tối cao của triều đình Nguyễn. Bên trong Hoàng thành là Tử cấm thành - nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia. Xuyên suốt cả ba toà thành, khi thì lát đá cụ thể, khi thì mang tính ước lệ, con đường Thần Đạo chạy từ bờ sông Hương mang trên mình những công trình kiến trúc quan trọng nhất của Kinh thành Huế: Nghinh Lương Đình, Phu Văn Lâu, Kỳ Đài, Ngọ Môn, điện Thái Hoà, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái, lầu Kiến Trung… Hai bên đường Thần đạo này là hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ bố trí cân đối đều đặn, đan xen cây cỏ, chập chờn khi ẩn khi hiện giữa những sắc màu thiên nhiên, luôn tạo cho con người một cảm giác nhẹ nhàng.
Xa xa về phía Tây Kinh thành, nằm hai bên bờ sông Hương, lăng tẩm của các vua Nguyễn được xem là những thành tựu của nền kiến trúc cảnh vật hoá. Lăng vua, đôi khi lại là một cõi thiên đường tạo ra cho chủ nhân hưởng thú tiêu dao lúc còn sống, rồi sau đó mới trở thành cõi vĩnh hằng khi bước vào thế giới bên kia. Hàm nghĩa như vậy nên kiến trúc lăng tẩm ở đây mang một phong thái hoàn toàn riêng biệt ở Việt Nam.
Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ảnh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ: lăng Gia Long mộc mạc nhưng hoành tráng giữa núi rừng trùng điệp khiến người xem cảm nhận được hùng khí của một chiến tướng từng trải trăm trận; lăng Minh Mạng uy nghi bình chỉnh đăng đối giữa núi rừng hồ ao, được tôn tạo khéo léo, hẳn có thể thấy được hùng tâm đại chí của một chính trị gia có tài và tính cách trang nghiêm của một nhà thơ quy củ; lăng Thiệu Trị thâm nghiêm, vừa thâm trầm giữa chốn đồng không quạnh quẽ, cũng phần nào thể hiện tâm sự của một nhà thơ siêu việt trên văn đàn song không nối được chí tiền nhân trong chính sự; lăng Tự Đức thơ mộng trữ tình được tạo nên chủ yếu bằng sự tinh tế của con người, phong cảnh nơi đây gợi cho du khách hình ảnh của một tao nhân mang nặng nỗi niềm trắc ẩn bởi tâm huyết của một nhà vua không thực hiện được…
Bên cạnh thành quách, cung điện, lăng tẩm nguy nga tráng lệ, Huế còn lưu giữ trong lòng bao nhiêu công trình kiến trúc độc đáo gắn liền với thể chế của hoàng quyền mà cách phối trí của các khoảng không gian đã tiến đến đỉnh cao của sự hài hòa trong bố cục. Song song với Kinh thành vững chãi bảo vệ bốn mặt, Trấn Bình Thành án ngữ đường sông, Trấn Hải Thành trấn giữ mặt biển, Hải Vân Quan phòng ngự đường bộ phía Nam, cả một hệ thống thành luỹ của Kinh đô, song không mấy ai để ý đến tính quân sự của nó vì nghệ thuật kiến trúc đạt đến đỉnh cao.
Đan xen giữa các khu vực kiến trúc cảnh vật hóa độc đáo ấy, chúng ta còn có đàn Nam Giao - nơi vua tế trời; đàn Xã Tắc - nơi thờ thần đất, thần lúa; Hổ Quyền - đấu trường duy nhất dành cho voi và hổ; Văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và dựng bia khắc tên Tiến sĩ văn thời Nguyễn; Võ Miếu - nơi thờ các danh tướng cổ đại và dựng bia khắc tên tiến sĩ võ; điện Hòn Chén - nơi thờ Thánh mẫu Thiên Y A Na… và còn qua nhiều những thắng tích liên quan đến triều Nguyễn hòa điệu trong các thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng như sông Hương, núi Ngự, Vọng Cảnh, Thiên Thai, Thiên An, Cửa Thuận… thực sự là những bức tranh non nước tuyệt mỹ.
Huế từng hiện hữu những khu vườn ngự danh tiếng như Ngự Viên, Thư Quang, Thường Mậu, Trường Ninh, Thiệu Phương… Chính phong cách kiến trúc vườn ở đây cũng lan tỏa khắp nơi trong dân gian, phối hợp với những nhân tố sẵn có, dần dần định hình một kiểu thức nhà vườn đặc thù của xứ Huế. Đây là thành phố của những khu nhà vườn với những ngôi nhà cổ thâm nghiêm ẩn hiện giữa xóm phường bình yên trong lòng Cố đô. Mỗi một khu nhà vườn lại mang bóng dáng của Kinh thành Huế thu nhỏ, cũng có bình phong thay núi Ngự, bể nước thế dòng Hương, đôi tảng đá cụm thay cho cồn Dã Viên, Bộc Thanh… đủ các yếu tố tiền án, hậu chẩm, tả long, hữu hổ… lại bốn mùa hoa trái, ríu rít chim ca, không gian ấy còn là thế giới của những thi nhân mặc khách đối ẩm ngâm vịnh, là nơi diễn xướng những điệu ca Huế não nùng như Nam Bình, Nam Ai… trong những đêm gió mát trăng thanh.
Gắn với một triều đại phong kiến tuân thủ những nguyên tắc rạch ròi của triết lý Khổng Mạnh, lễ hội và âm nhạc ở vùng kinh sư này đã phát triển vô cùng phong phú và mang đậm phong cách dân tộc. Triều đình thì có lễ Tế Giao, Tế Xã Tắc, lễ Nguyên Đán, lễ Đoan Dương, lễ Vạn Thọ, lễ Đại triều, lễ Thường triều, lễ Ban Sóc, lễ Truyền Lô, lễ Duyệt Binh... mỗi một lễ hội đều có những bước nghi thức mà phần hồn của nó chính là âm nhạc lễ nghi cung đình. Dân gian cũng đa dạng các loại hình lễ hội: lễ hội điện Hòn Chén, lễ hội Cầu Ngư, lễ hội vật Sình, lễ hội đua ghe, lễ hội tế đình, tế chùa, tế miếu... gắn kết với các loại hình lễ hội lại là những hình thức âm nhạc lễ nghi dân gian muôn màu muôn vẻ.
Cùng tồn tại với dòng âm nhạc mang tính lễ nghi, loại hình âm nhạc mang tính giải trí tiêu khiển của xứ Huế cũng được thế giới biết đến như một điển hình mang đậm bản sắc riêng của một vùng văn hóa, mộc mạc thuần khiết, đặc thù không pha trộn. Đó là những điệu múa Huế, những vở tuồng Huế, những bài ca Huế mà ngày nay đã trở thành những món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi chuyến tham quan Cố đô của du khách mọi miền.
Huế còn sở hữu di sản thứ hai của thế giới đó là Nhã nhạc cung đình Huế - di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận vào năm 2003 là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Huế vẫn đang gạn đục khơi trong, giữ gìn những tinh hoa văn hóa cổ truyền của dân tộc, bảo tồn những hình thái nghệ thuật được tạo nên bằng trí tuệ tâm huyết của tiền nhân nay đang ở bên bờ lãng quên, phục hồi những giá trị tinh thần quí báu của cha ông khi còn có thể.
Ngày nay, Huế trở thành một thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam. Cứ hai năm một lần, nhân dân thành phố Huế lại đón chào ngày lễ hội trọng đại này trong niềm háo hức. Trong ý nghĩ của nhiều người, Huế trở thành thành phố Festival gần như là một điều tất yếu vì ở Huế còn bảo lưu khá điển hình diện mạo một kinh đô của triều đại phong kiến mà các công trình kiến trúc lại hòa điệu với thiên nhiên tạo nên những tiết tấu độc đáo với những lễ hội, âm nhạc, ẩm thực truyền thống được bảo tồn phong phú đa dạng.
Huế đang sở hữu hai di sản thế giới mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hóa độc đáo của Việt Nam và thế giới. Huế - thành phố của sự hài hòa giữa kiến trúc - thiên nhiên và con người, Huế là sự tổng hợp giữa đạo và đời trong kiến trúc, giữa cổ xưa và hiện đại, Cố đô cổ kính chung sống hài hòa với thành phố trẻ mới ngày nay. Với một công cuộc bảo tồn theo những tiểu chuẩn cao nhất của Di sản thế giới, kho tàng văn hóa Huế sẽ còn tiếp tục nở rộ những đóa hoa nghệ thuật tươi mới. Huế sẽ mãi mãi được giữ gìn cho Việt Nam và cho thế giới, mãi mãi là niềm tự hào của chúng ta./.
Phượng Nguyễn
(Tạp chí Ngày Nay – VFUA)

10 loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng

(NNO) - Tê giác Java một sừng, loài vừa được tuyên bố là tuyệt chủng ở Việt Nam, là một trong 10 loài có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới.
Theo WWF, tê giác Java ở vườn quốc gia Cát Tiên được phát hiện đã chết với vết đạn bị bắn vào chân và cái sừng biến mất vào tháng 4 năm ngoái. Loài tê giác một sừng Java tuyệt chủng ở Việt Nam. Hiện loài này vẫn còn một số cá thể và đang được bảo tồn ở Indonesia. Ảnh: WWF/AP.
Chim gõ kiến mỏ ngà. Loài này sống ở Nam Mỹ. Chúng có thể đã tuyệt chủng do mất môi trường sống. Ảnh: PA.
Báo Amur sống trong những khu rừng tuyết ở vùng viễn đông Nga. Các nhà khoa học cho rằng, chúng hiện chỉ còn 40 con do nạn săn trộm và khai thác gỗ. Ảnh: WWF.
Còn khoảng 100 con vượn tre lớn sinh sống ở Madagascar. Chúng đang bị đe dọa bởi nạn săn bắt của con người và mất đi môi trường sống. Ảnh: AP.
Chỉ còn khoảng 350 con cá voi lưng thẳng ở biển Atlantic. Ảnh: Alamy.
Khỉ đột núi. Còn khoảng 700 con vẫn còn sống ở phía đông Trung Phi. Loài này đang trên bờ tuyệt chủng do chính sách bất ổn của chính phủ nước này. Ảnh: AP.
Rùa luýt. Số lượng loài rùa lớn nhất thế giới này đang suy giảm ở mức báo động. Nguyên nhân là do con người lấy trứng của chúng đẻ trên bờ biển, còn tổ của chúng bị mất do bờ biển xói mòn. Ảnh: Alamy.
Hổ Siberia. Loài này sống ở vùng băng tuyết nước Nga. Số lượng của nó chỉ còn 40 con vào thập kỷ 1930 do bị săn bắn. Sau đó số lượng của loài tăng lên 500 con nhưng chúng vẫn đang bị đe dọa bởi nạn săn bắn của con người. Ảnh: Alamy.
Kỳ giông khổng lồ ở Trung Quốc. Chúng dài tới 1,8m, đang dần tuyệt chủng do môi trường sống bị ô nhiễm nặng. Ảnh: Alamy.
Hải cẩu Hawaii còn ít hơn 1.000 con. Các nhà khoa học chưa giải thích vì sao số lượng của chúng lại suy giảm. Ảnh: AP.

Theo Vnexpress.net

Video Online